Sân Khấu Online

MÙA LÚA CHÉT CUỐI CÙNG

  • 25/08/2026
  • Một năm sau, má mất. Ngày đưa má ra đồng, trời không mưa. Ruộng sau mùa gặt trơ gốc. Một ít lúa chét đã nhú lên, xanh non. Tôi đứng nhìn những chân rạ vàng úa. Tôi chợt nghĩ tới Vĩnh. Tôi ghét mình vì vẫn nghĩ tới anh trong ngày má mất. Nhưng người ta đâu điều khiển được trái tim. Tôi đem chiếc khăn anh cho tôi bỏ vào quan tài của má. Không phải vì má cần, mà vì tôi muốn chôn luôn một phần đời của mình. Từ đó tôi sống một mình. Người trong xóm mai mối nhiều người. Tôi không lấy.

     

    Mùa Lúa Chét Cuối Cùng

     

    Có người hỏi:

    - Còn chờ thằng Vĩnh?

    - Không.

    - Vậy sao không lấy chồng?

    - Tôi không muốn.

    Người ta lắc đầu.

    - Con nhỏ này chắc khùng.

    Tôi cười. Chắc cũng khùng thật. Nhưng có những người đàn bà không lấy chồng không phải vì còn thương một người, mà vì đã từng thương quá nhiều, tới mức không còn sức để bắt đầu lại. Năm thứ ba sau ngày Vĩnh đi, tôi nghe tin anh cưới vợ. Tôi nghe tin từ bà Sáu bán cá.

    - Nghe đâu cưới lớn lắm.

    Tôi hỏi:

    - Vậy hả?

    - Ừ.

    Tôi gật đầu.

    Tối đó tôi ra ruộng. Lúa chét vừa lên. Gió thổi rì rào. Tôi ngồi giữa ruộng tới khuya. Không khóc. Tôi chỉ thấy trong lòng mình trống rỗng, như căn nhà đã dọn hết đồ, không còn gì để mất. Nhưng rồi một chuyện xảy ra. Tôi mang thai, đứa bé là của Vĩnh. Tôi biết chắc chúng tôi từng có một đêm bên bờ kinh, trước khi anh đi. Anh không biết. Tôi cũng không nói. Tôi không muốn kéo anh về bằng một đứa trẻ. Tôi nghĩ nếu anh thật sự thương tôi, anh sẽ tự trở về.

    Anh không trở về. Tôi sinh con gái. Đặt tên là Mận. Con bé giống Vĩnh ở đôi mắt. Tôi nhìn nó mà vừa thương vừa giận.

    Tôi nói với nó:

    - Cha con ở xa.

    Nó hỏi:

    - Xa cỡ nào?

    - Xa hơn bên kia con sông.

    Nó lớn lên với một người cha không có mặt trong nhà. Tôi không nói xấu Vĩnh. Tôi cũng không kể cho con nghe chuyện chúng tôi từng yêu nhau. Tôi chỉ nói:

    - Cha con là người tốt.

    Có lẽ tôi nói vậy vì tôi muốn con mình được lớn lên mà không mang theo sự oán hận của mẹ.

    Mười hai năm sau, Mận đã lớn. Con bé học trên huyện. Nó muốn lên thành phố. Tôi không cản. Tôi biết đời nó không thể mãi nằm lại ở cái bờ kinh này. Có những đứa trẻ sinh ra từ một cuộc tình dang dở nhưng không có nghĩa chúng phải sống dang dở theo. Năm ấy, quê tôi có một mùa lúa chét rất đẹp. Sau vụ gặt, đồng ruộng xanh trở lại. Những bông lúa nhỏ cúi xuống dưới gió. Người ta nói năm đó nước về sớm nên lúa chét tốt. Tôi cắt một ít đem về phơi.

    Mận hỏi:

    - Mẹ giữ làm gì?

    - Tính nấu cơm.

    - Lúa chét mà cũng ăn được hả?

    - Ăn được.

    - Ngon không?

    Tôi cười.

    - Không ngon bằng lúa mới.

    - Vậy sao mẹ ăn?

    Tôi nhìn ra đồng.

    - Vì nó còn sống.

    Đúng lúc đó Vĩnh trở về. Tôi gặp anh ở chợ. Anh đứng bên quầy cá, tóc đã bạc hai bên thái dương. Tôi nhận ra anh ngay. Người ta có thể quên một gương mặt, nhưng không dễ quên một người từng nằm trong lòng mình. Anh cũng nhận ra tôi.

    - Lành.

    Tôi gật đầu.

    - Lâu quá.

    - Ừ.

    Anh nhìn tôi. Tôi nhìn anh. Không ai biết nói gì. Cuối cùng anh hỏi:

    - Em sống sao?

    - Tôi sống.

    Anh cười buồn.

    - Con đâu?

    Tôi nhìn anh.

    - Con gái.

    - Bao nhiêu tuổi?

    - Mười hai.

    Anh khựng lại. Chỉ một chút thôi. Nhưng tôi thấy. Anh hỏi:

    - Có giống anh không?

    - Không.

    Tôi nói dối, Mận giống anh như một giọt nước. Vĩnh cúi đầu. Một lát sau anh nói:

    - Anh xin lỗi.

    Tôi cười.

    - Có gì đâu.

    - Lành.

    - Ừ?

    - Anh từng thương em.

    Tôi nhìn những người qua lại trong chợ.

    - Em biết.

    - Anh không quên.

    - Không quên thì sao?

    Anh im lặng. Tôi nói:

    - Vậy thôi.

    Đôi khi câu chuyện của hai người đã hết, nhưng một người cứ cố tìm thêm một câu để nói. Tôi không muốn nghe nữa. Tôi đi về. Chiều hôm đó, Vĩnh tìm tới nhà. Mận đang ngồi học. Anh đứng ngoài hàng rào. Tôi biết anh nhìn con bé. Anh không hỏi. Tôi cũng không nói. Một lúc lâu, anh mới nói:

    - Anh có thể gặp con không?

    Tôi nhìn anh.

    - Không.

    Anh gật đầu.

    - Anh hiểu.

    Tôi tưởng anh sẽ đi. Nhưng anh đứng đó thêm một lúc.

    - Lành, ngày đó anh đi vì anh nghĩ mình nghèo quá.

    Tôi không nói.

    - Anh sợ kéo em theo.

    - Anh có từng nghĩ em cần anh giàu không?

    Anh cúi mặt.

    - Không.

    - Vậy tại sao anh không hỏi?

    Anh không trả lời. Tôi thấy thương anh. Lạ chưa, người làm mình đau, tới lúc gặp lại, mình vẫn có thể thương.

    Tôi nói:

    - Về đi.

    Anh quay lưng. Tôi đứng nhìn theo. Tôi không biết đó là lần cuối cùng mình thấy Vĩnh. Ba ngày sau, anh mất. Người ta bảo anh bị tai nạn trên đường về thành phố. Tôi nghe tin vào một buổi chiều. Lúc ấy tôi đang phơi lúa chét ngoài sân. Tôi đứng im rất lâu.

    Mận chạy tới hỏi:

    - Mẹ sao vậy?

    Tôi nói:

    - Không sao.

    Tôi nhìn những hạt lúa nhỏ trong nia. Chúng nhẹ tới mức chỉ cần một cơn gió mạnh là bay. Tôi chợt nghĩ, có những người đi qua đời mình cũng vậy. Tưởng rằng họ chỉ rời khỏi một lần. Ai ngờ họ rời khỏi mãi mãi. Mận biết Vĩnh là cha mình sau đám tang. Tôi không giấu nữa. Con bé ngồi bên tôi suốt một buổi chiều.

    - Cha có thương mẹ không?

    Tôi nhìn ra đồng.

    - Có.

    - Vậy tại sao cha bỏ mẹ?

    Tôi im lặng rất lâu.

    - Có những người thương nhau mà không biết cách ở lại.

    Mận khóc. Tôi không khóc.

    Nó hỏi:

    - Cha có biết con không?

    - Biết.

    - Cha có thương con không?

    Tôi gật đầu.

    - Có.

    Nó cúi xuống.

    - Mẹ có giận cha không?

    Tôi nghĩ một lúc.

    - Ngày trước có.

    - Còn bây giờ?

    - Không.

    - Vì sao?

    Tôi nhìn những bông lúa chét ngoài đồng.

    - Vì giận một người đã chết cũng chẳng làm người đó sống lại.

    Mận ôm tôi. Lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi cho phép mình khóc. Tôi khóc như người ta xả nước khỏi một con đập cũ. Bao nhiêu năm không khóc, nước mắt vẫn còn nguyên. Chúng tôi đem tro của Vĩnh về quê. Không phải tôi muốn. Là vợ anh muốn. Chị ấy tìm tới nhà tôi. Chị ta không đẹp như tôi tưởng. Chỉ là một người đàn bà bình thường, có đôi mắt mệt mỏi.

    Chị nói:

    - Anh ấy có lỗi với chị.

    Tôi không biết trả lời sao. Chị đưa tôi một cái hộp.

    - Anh ấy giữ cái này nhiều năm.

    Tôi mở ra. Bên trong là một chiếc khăn cũ. Tôi ngồi chết lặng. Tôi cứ tưởng mình đã chôn nó cùng má. Hóa ra Vĩnh đã lấy lại, không biết từ bao giờ. Trong hộp còn có một tờ giấy. Chỉ một dòng:

    - Nếu có một lần nữa, anh sẽ ở lại.

    Tôi gấp tờ giấy lại. Không khóc. Tôi đem chiếc khăn ra bờ kinh. Gió chiều thổi qua đồng. Mùa lúa chét đã hết. Người ta vừa cày ruộng để chuẩn bị cho vụ mới. Những gốc rạ bị vùi xuống bùn. Tôi đứng đó rất lâu, Mận đứng bên cạnh.

    - Mẹ định làm gì?

    - Về nhà.

    Tôi không đốt chiếc khăn. Cũng không giữ nó. Tôi thả nó xuống dòng nước. Chiếc khăn nổi một lúc rồi chìm, như một lời tạm biệt cuối cùng. Mận nắm tay tôi, hai mẹ con đi về. Phía sau, con kinh vẫn chảy. Nước mang theo phù sa, rác rưởi, lá mục, những cánh lục bình tím ngắt và tất cả những thứ người ta không muốn giữ. Tôi nghĩ đời người cũng giống một dòng nước. Có những người đi vào đời mình rồi đi ra. Có những người để lại một đứa con. Có người để lại một vết thương. Có người để lại một mùa lúa chét.

    Mùa lúa chét năm ấy là mùa cuối cùng tôi còn nhớ rõ. Sau đó, người ta đổi giống lúa. Ruộng quê tôi không còn ai để lúa chét mọc nữa. Máy móc xuống đồng. Người ta cày hết gốc rạ ngay sau mùa gặt. Đồng ruộng sạch sẽ hơn. Năng suất cao hơn. Lúa chét biến mất. Những đứa trẻ lớn lên sau này chẳng còn biết thứ lúa nhỏ xíu đó là gì. Một buổi chiều nhiều năm sau, Mận đưa con gái về thăm tôi. Con bé chạy ra ruộng.

    - Bà ngoại ơi, lúa này là lúa gì?

    Tôi nhìn xuống. Một đám lúa chét mọc lên ở góc ruộng bỏ hoang. Tôi ngồi xuống, vuốt nhẹ một bông lúa.

    - Lúa chét.

    - Ăn được không bà?

    Tôi cười.

    - Được.

    - Nó có ngon không?

    Tôi nhìn cánh đồng.

    - Không ngon lắm.

    - Vậy sao bà thích?

    Tôi không trả lời ngay. Gió thổi qua. Những bông lúa nhỏ nghiêng theo chiều gió. Tôi chợt thấy mình của rất nhiều năm trước. Một cô gái ngồi bên bờ kinh, chờ một chiếc xuồng đi ngang. Một người đàn ông cười với cô. Một lời hứa được nói ra giữa đồng. Một mùa lúa chét. Một tình yêu. Một người chết. Một người ở lại. Và một đời người đàn bà nhẹ như hạt lúa.

    Tôi nói với cháu:

    - Vì nó giống người.

    - Giống người chỗ nào?

    Tôi cười.

    - Nhỏ. Nhẹ. Không ai gieo mà vẫn mọc.

    Con bé chẳng hiểu. Nó chạy đi hái hoa. Tôi ngồi lại một mình. Trời về chiều. Khói rơm từ cuối xóm bay lên, mỏng như một lớp sương. Tôi nghe tiếng xuồng máy ngoài con kinh. Vẫn có những chiếc xuồng đi ngang. Chỉ là tôi không còn chờ ai nữa. Tôi cúi xuống nhặt một hạt lúa chét rơi trên bùn. Nó nhỏ xíu, nằm trong lòng bàn tay tôi, nhẹ như một điều chưa từng xảy ra. Tôi khép tay lại, rồi lại mở ra, hạt lúa vẫn còn đó. Tôi bỗng nghĩ, có lẽ tình yêu cũng vậy. Có những chuyện mình tưởng đã quên từ lâu, nhưng chỉ cần một buổi chiều gió đổi hướng, một mùi bùn non, một tiếng mái chèo khua nước, nó lại nằm nguyên trong lòng bàn tay. Nhẹ tênh mà nặng cả một đời.Mùa lúa chét năm đó là mùa cuối cùng, Vĩnh đã không còn, má đã không còn. Căn nhà cũ cũng không còn. Chỉ còn tôi và những hạt lúa nhỏ không ai gieo.

     

    Mùa Lúa Chét Cuối Cùng - ảnh 2

     

    Tôi đứng dậy, đi về phía con đường làng. Sau lưng, gió thổi qua ruộng. Những bông lúa chét đồng loạt cúi xuống, rồi lại đứng lên, cúi xuống, rồi lại đứng lên. Như những người đàn bà quê tôi suốt một đời bị gió làm nghiêng nhưng không chịu nằm yên.

    TAGS

    Bài viết liên quan